Phân tích đoạn thơ Trao Duyên trích Truyện Kiều


Phân tích đoạn thơ Trao Duyên trích Truyện Kiều

Bài làm

Một đời thơ với những suy nghiệm sâu xa về Nguyễn Du và truyện Kiều , Chế Lan Viên đã gửi vào nền văn học Việt Nam một tiếng nói đầy suy tư, đậm chất triết học, lay động một lòng người về một thi hào, một kiệt tác dân tộc:

‘Anh sinh vào thế kỉ nhiều tà huy mưa bụi

Quờ tay ra không người đồng điệu nằm bên

Nỗi đau anh trùng với nỗi đau nhân loại

Mượn câu Kiều hóa thạch cuộc đời riêng’

( Chế Lan Viên – Nghĩ thêm về Nguyễn)

truyện Kiều là tiếng lòng của Nguyễn Du, một tiếng kêu dứt từng khúc ruột ‘đoạn trường tân thanh’ kể về một cuộc đời, một thân phận ‘bảy nổi ba chìm’ của nàng Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn

‘Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc

Sắc tài sao lại lắm truân chuyên

Cành xuân phải trao trước nước mất

Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên’

Nếu cuộc đời nàng Kiều là một chuỗi bi kịch, thì ‘Trao Duyên’ là nỗi đau đầu đời mở màn cho một chuỗi dài những đau thương chất chồng lên cuộc đời truân chuyên của người con gái tài sắc vẹn toàn. Là một bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật, bằng tài năng trác tuyệt của mình, Nguyễn Du đã khéo léo, tinh tế, thể hiện những tâm trạng, cung bậc cảm xúc của Thúy Kiều khi trao kỉ vật và dặn dò em

Dựa vào cốt truyện ‘Kim Vân Kiều truyện’ của Thanh Tâm Tài Nhân,Nguyễn Du-đại thi hào của dân tộc đã tạo ra một khúc ca mới ‘đoạn trường tâm thanh’đó là khúc ca đồng cảm với số phận con người,khát vọng tình yêu sự tự do và ước mơ công lí.Đồng thời, đây cũng là lời tố cáo xã hội phong kiến mục nát, thối rửa. truyện Kiều gồm 3 phần, đoạn trích ‘ Trao duyên’ nằm ở phần 2 ‘gia biến và lưu lạc’,đây cũng là đêm cuối Kiều ở nhà, mai nàng sẽ theo Mã Giám Sinh về làm vợ nên Kiều đã nhờ Thúy Vân thay mình gá nghĩa với Kim Trọng. Nàng trao kỉ vật và dặn dò em

Nói xong lời thỏa nguyện bình sinh và hàm ơn đối với em, Kiều làm nốt cái phần việc cuối cùng và khó khăn nhất: tra kỷ vật cho Vân. Tay Kiều thì trao nhưng lòng Kiều còn cố níu kéo giữ lại một chút gì cho mình:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung.”

Nhịp điệu đã không còn hoàn toàn bình thường nữa. Nếu ở câu một, nhịp điệu vẫn còn phẳng lặng thì ở câu sau “Rõ ràng là Thúy Kiều bắt đầu lúng túng” Biết phân biệt thế nào những cái không dễ rạch ròi? “Tờ mây”, “chiếc vành” là những vật hữu hình, nhưng nó lại là tiếng nói bền bỉ, lặng thầm của những khái niệm vô hình – giây phút gặp gỡ và thề nguyền giữa Kim và Kiều (Giở kim thoa với khăn hồng trao tay, Tiên thề cùng thảo một chương). Cái bối rối trong sự phân chia của Thúy Kiều giữa “vật này” với “duyên này”. Kỷ vật có thể là chung, nhưng tình yêu của con người thì dứt khoát khó lòng mà sẻ chia. Hoài Thanh viết: “Của chung là của ai? Bao nhiêu đau đớn trong hai tiếng đơn sơ!” Biết bao giằng xé, đau đớn, chua chát trong hai chữ “của chung” đầy phi lí ấy. Khẩn khoản, van nài em nhận lời trao duyên của mình, vậy mà Kiều lại thấy mình như là kẻ bị mất, coi mình như là người mệnh bạc. Tất cả những tình cảm mâu thuẫn ấy càng làm cho tấm bi kịch tình yêu tan vỡ của Kiều thêm đau đớn khi đứng chọn giữa lý chí và tình cảm . Khi nghĩ đến việc hy sinh chữ Tình vì chữ Hiếu, chắc ý nghĩ mất Kim Trọng đã đến trong nàng. Nhưng rồi Kiều đã đặt hạnh phúc Kim Trọng lên trên , nàng quyết định trao duyên. Trong lúc lựa lời thuyết phục em, cảm giác mất mát ấy có đến gần hơn. Nhưng có lẽ phải đến lúc này đây, nỗi mất mát ấy mới thực sự choáng ngợp tâm hồn nàng. Còn giữ kỷ vật, ít nhiều người ta vẫn có cái ảo giác người yêu hãy còn là của mình. Chỉ đến khi cầm kỷ vật trao đi cho kẻ khác, người ta mới thật sự rơi vào hụt hẫng. Nỗi mất mát ấy mới thật sự khiến cho con người thấy trống hoang cả cõi lòng. Bắt đầu từ giây phút này, cùng với kỷ vật này, chàng Kim sẽ vĩnh viễn thuộc về người khác. Câu thơ như một nỗi nghẹn ngào!

Xem thêm:  Cảm nhận về nhân vật Huấn Cao (bài 2)

Kể từ giây phút này, tiếng nói tình cảm đã dần thay tiếng nói của lý trí. Kiều hi vọng cho TV và KT “nên vợ nên chồng” để trong hạnh phúc gia đình ấy, kỉ niệm về nàng vẫn tồn tại:

“Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”

Ý nghĩ của Kiều thật chua chát, tủi buồn, nó đọng lại ở câu: “Dù em nên vợ nên chồng”. Từ “dù” ở đầu câu thơ như một giả thiết mơ hồ hi vọng. Kiều biết chắc chắn thế nhưng vẫn mong điều ấy đừng đến. Phải chăng, ND đã nhập tâm vào nhân vật TK, thấu hiểu từng nỗi niềm tâm sự của nàng đề nói lên tiếng nói giúp nàng? Chủ nghĩa nhân đạo của ND sâu sắc biết chừng nào.

Không chỉ trao các kỉ vật đính ước, mà Kiều còn trao những kỉ vật chứng kiến việc thề nguyền đính ước giữ K và KT. Khi trao các kỷ vật này, K như sống lại với đêm thề nguyền đính ước qua cách nói “phím đàn”, mảnh hương nguyền” và “Đốt lò hương ấy so tơ phím này” Những chi tiết trên cho ta thấy trong tâm hồn Kiều, những kỷ niệm đẹp về tình yêu có sức sống mãnh liệt. Tình yêu của nàng thật sâu sắc biết nhường nào. K đã trao duyên, trao cả kỉ vật tình yêu ấy thế mà nàng vẫn đặt ra một giả thiết, như có điều gì chưa ổn, chưa yên. K thấy mình đáng thương biết bao, mình là “người mệnh bạc” để cho người khác phải xót, phải thương hại! Thật trớ trêu khi “của tin” còn đó, “Phím đàn với mảnh hương nguyền” còn đó, mà người thì lại “mất”.Tất cả những mâu thuẫn trên làm cho tấn bi kịch tình yêu tan vỡ của Kiều thêm đau đớn. Sự hiện diện của những kỷ vật càng gợi lên sự tương phản giữa hạnh phúc trong quá khứ với sự chia li đau đớn trong hiện tại. Lời thề ước trăm năm mới trao gửi hôm nào, tiếng đàn còn văng vẳng, hương nguyền còn tỏa ngát, thoắt cái đã thành chuyện ngày xưa. Sự cảm nhận thời gian ở đây có màu sắc tâm lý đã tô đậm thêm nỗi đau của Kiều.

Xem thêm:  Sự đối lập giữa Thạch Sanh và Lý Thông với chủ đề thưởng phạt trong truyện cổ tích

Sau khi trao kỉ vật cho em, Kiều thấy cuộc sống, hạnh phúc này đã kết thúc. Lúc này Kiều chuyển qua nói với Thúy Vân cũng như nói với chính mình. Nỗi đau trong Kiều thoạt lên những nhân chứng cho tình yêu của nàng và Kim Trọng là ‘phím đàn’,’mảnh hương huyền’,…nhưng sau này sẽ trở thành những giay phút nồng nàn của Thúy Vân và Kim Trọng, Kiều càng đau đớn tuyệt vọng.

Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:

“Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”.

“Mai sau” của Kiều không hơn gì thế giới của hôm nay, của cuộc đời thực. Nếu đoạn thơ đầu của đoạn trích “Trao duyên”, K nói đến cái chết thật nhẹ nhàng, thanh thản thì giờ đây hình ảnh cái chết được gợi lên thật đau đớn, não nùng. Hình ảnh hồn oan của TK trở về vật vờ trong khói hương nghi ngút, trong dìu dặt phím tơ, trong ngọn gió hiu hiu, trong lay động của lá cây ngọn cỏ vừa tội nghiệp, vừa thê thiết quá chừng. Đầu ngọn bút của NDu như có máu pha lẫn nước mắt.

TK như chìm trong tê dại, mê man, trong cảm giác xót xa. Dẫu sang thế giới bên kia nhưng hồn vẫn còn “mang nặng lời thề”, vì chưa đền đáp hết ân tình sâu nặng với người yêu:

“Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Rưới xin giọt nước cho người thác oan”.

Tâm lí của K thật mâu thuẫn và phức tạp. Nàng cầu xin Vân nhận lời trao duyên nhưng mình vẫn còn mang nặng lời thề trăm năm gắn bó. Vì sự thiết tha ấy oan hồn nàng còn trở về dương thế để gặp lại chàng Kim. Đó là một ý thức, một tấm lòng cao quý mà ko phải người nào cũng có được như Kiều. Sự thủy chung của K trước sau vẫn thể hiện nhất quán dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Còn đối với Vân, nàng cầu mong em Vân thương xót lấy nàng. Hồn của K “mang nặng lời thề” là hồn oan, ko siêu thoát được. Ở chốn “dạ đài” tăm tối, nàng ko thể nói nên lời, nàng chỉ xin ít giọt cành dương rưới ra nơi lá cây ngọn cỏ hiu hiu gió, để hồn oan của nàng mát mẻ siêu thoát . Lời dặn dò, tâm sự của Kiều mà ta tưởng như tiếng người than khóc ai oán. Thật đau đớn biết nhường nào! Đoạn thơ là tiếng nói xót thương cho thân phận người con gái tha thiết với cuộc sống, với tình yêu. Đây cũng là phương diện của chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của NDu.

Xem thêm:  Soạn bài Tôi đi học của Thanh Tịnh văn lớp 8

Hoài Thanh từng nói rằng: “Nếu cảm hứng nhân bản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ca ngợi vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là bao trùm”. Thật vậy, khép lại mười hai dòng thơ ta thấy sự đồng cảm, xót xa trước nỗi đau khi tình yêu tan vỡ của Kiều, là sự ngợi ca phẩm chất tốt đẹp về một nàng Kiều vừa có hiếu, vừa có tình, biết cảm thông, biết hi sinh. Đồng thời Nguyễn Du còn tố cáo xã hội vì đồng tiền có sức mạnh vạn năng chi phối và đày ảo con người, “đồng tiền lăn tròn trên mọi đáy lương tâm” Ngoài ra, bằng tài năng miêu tả nội tâm nhân vật, sử dụng ngôn ngữ điêu luyện kết hợp giữa ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học đồng thời sử dụng hình ảnh giàu giá trị biểu cảm. Qua đó nàng Kiều hiện lên như một lý tưởng, một khát vọng của thời đại. Vì thế ta mới hiểu được tại sao Huỳnh Thúc Kháng sau này có viết rằng: “Truyện Kiều về mặt mỹ thuật rõ là cực tốt, mà ở trong đựng nhân vật có chất độc”

‘Trao duyên’ là đoạn thơ tiêu biểu thể hiện cả chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Đồng thời, thể hiện được tài năng của đại thi hào Nguyễn Du. Qua đoạn trích ta cũng hiểu được nỗi đau khổ của Thúy Kiều khi mất đi tình yêu cũng như vẻ đẹp, nhân cách của Kiều ta có thể nói Kiều là nhân vật đại diện cho người phụ nữ Việt Nam tài sắc vẹn toàn nhưng lại có số phận bi thương, bất hạnh

“Người sao hiếu nghĩa đủ đường,

Kiếp sau rặt những đoạn trường thế thôi”.

Người Việt Nam ai đọc Kiều đều cũng sẽ thấy mình trong một đoạn đời của nàng Kiều ‘Trong câu Kiều xưa, ta tìm ra Nguyễn Du mà tìm cả chính mình.’như là một lời khẳng định tài năng văn chương của ông, là lời khẳng định cho câu chuyện bất hủ của dân tộc.

Bài viết liên quan